my pham sachMột số nguyên tố kim loại nặng có trong mỹ phẩm khi sử dụng không thể trao đổi một cách bình thường trên làn da, mà tích tụ trong da và cơ thể, và khi đạt tới mức độ nhất định sẽ sản sinh ra những độc tố có hại đối với hệ thống nội tiết của cơ thể con người, khiến hoạt động trao đổi chất trở nên rối loạn, gây ra nhiều bệnh tật.

 

Hóa chất hữu ích trong mỹ phẩm

Lưu huỳnh

Lưu huỳnh đem lại tác dụng kháng viêm, kháng khuẩn, từ đó làm khô mụn, vết thương bị viêm nhiễm, thậm chí trị ghẻ, vẩy nến, nấm ngứa. Lưu huỳnh vốn là hoạt chất dễ kiếm, giá rẻ. Ai cũng đủ khả năng sở hữu một sản phẩm có thành phần này với giá chỉ 8 - 15 nghìn đồng. Nếu sử dụng đúng hướng dẫn, việc trị mụn và các vết thương bằng lưu huỳnh không có gì khó khăn và cũng ít gây tác dụng phụ. - Không thoa lên các vùng da bị cháy nắng, nứt nẻ, có vết thương hở
- Tuyệt đối không kết hợp với tretinoin vì sẽ gây kích ứng da nghiêm trọng
- Tránh dùng cùng kem chống nắng có PABA (Para-Aminobenzoic Acid) để ngăn tình trạng đổi màu da
- Hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời để giảm nguy cơ kích ứng da
- Chỉ bôi lưu huỳnh lên vùng da điều trị nhằm tránh khô tróc, thâm sạm. 

 Axit ascorbic

Axit ascorbic là một hợp chất hữu cơ tự nhiên có đặc tính chống oxi hóa cho các tế bào sinh vật. Nó là một chất rắn màu trắng, những mẫu không tinh khiết có thể có màu vàng. Axit ascorbic hòa tan tốt trong nước, tạo dung dịch axit yếu. Axit ascorbic là một trong những dạng của vitamin C có nguồn gốc từ glucose. Nhiều loài động vật có thể sản xuất ra axit ascorbic. Con người cần nó như là một phần của dinh dưỡng, trong khi hầu hết các loài động vật có xương sống đều có thể sản xuất axit ascorbic. Trong mỹ phẩm, chất này giúp sản phẩm không bị hư hỏng, đồng thời nó cũng kích thích sản sinh collagen – một loại chất làm giảm quá trình lão hóa và nếp nhăn trên da.

Phenoxyetanol

Đây là một loại chất bảo quản dạng lông nhờn được làm từ phenol, một chiết xuất từ nhựa than đá. Là một chất hữu cơ thuộc loại este thường được dùng trong các dược phẩm hoặc các sản phẩm hướng da. Chất này ở thể lỏng không màu. Ngoài mỹ phẩm thì nó còn được dùng trong nhiều vacxine, dược phẩm và chất bảo quản. trong mỹ phẩm, chất này có tác dụng ngăn cản sự bay mùi nhanh, giúp hương thơm lưu lại lâu khi sử dụng. Tuy nhiên, gần đây có nhiều bằng chứng cho rằng, chất này có liên quan đến sự rối loạn nội tiết và gây ung thư. Nó còn có thể gây kích ứng da và mắt.

Hóa chất độc hại trong mỹ phẩm (theo chương trình SGK)

Polypropylen, Polyetylen

Đây là hóa chất độc hại được dùng nhiều trong các loại kem lót, kem nền, phấn trang điểm, kem che khuyết điểm, có tác dụng che phủ lỗ chân lông, làm da láng mịn, mượt mà, che khuyết điểm trên da. Các hạt nhựa không hề có tác dụng làm sạch và dưỡng da như những hạt hữu cơ (muối, đường,…). Chúng chỉ làm trầy xước da, gây kích ứng, nghẽn lỗ chân lông, hư men răng. Tệ nhất là nếu bạn lỡ nuốt vào những hóa chất độc hại, chúng không thể tan đi hay bị tiêu hóa mà tích tụ trong cơ thể và gây ra nhiều chứng bệnh, tăng nguy cơ bị ung thư.

Propylen glycol

Propylen glycol, còn gọi là 1,2-propandiol hoặc propan-1,2-diol là hợp chất hữu cơ đa chức có công thức C3H8O2, công thức phân tử HO-CH2-CHOH-CH3. Đây là hợp chất giữ ẩm, chống khô cho mỹ phẩm, đồng thời có tác dụng giữ mỹ phẩm bám trên da. Tuy nhiên cũng như petrolatum, nếu cứ để ở trên da mà không rửa đi, nó sẽ ngăn cản quá trình hô hấp, bài tiết và tái tạo da. Tác hại: Sử dụng các sản phẩm có chứa hóa chất độc hại PEG lâu dài khiến da bị kích ứng, trở nên kho và lão hóa. Khi hấp thu vào cơ thể, PEG sẽ gây hại cho não, gan, thận và tăng nguy cơ dẫn đến các cơn đau tim.

Fomandehit (phoọc môn)

Là chất bảo quản cực kỳ độc hại hiện đã bị cấm ở nhiều nước như Canada, Thụy Điển, Nhật và Châu Âu. Hiện hóa chất độc hại này vẫn còn được tìm thấy trong nhiều sản phẩm sơn móng tay, gel vuốt tóc, keo dán lông mi, dầu gội, sữa tắm cho trẻ em…

Tác hại: Gây kích ứng da, dùng lâu dài dễ dẫn đến ung thư.

Thông thường cơ thể con người sản xuất ra formandehit nhưng chỉ với một lượng nhỏ và vô hại. Một khi tiếp xúc quá nhiều với formandehit có thể dẫn tới dị ứng ở mắt, mũi, cổ họng và da, nguy hiểm hơn còn gây ra bệnh hen suyễn.

Formandehit cũng có thể gây rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ và làm tăng nguy cơ mắc phải nhiều dạng ung thư khác nhau. Mormaldehyde có trong một số sản phẩm như dầu dưỡng tóc.

Toluen

Có nguồn gốc từ dầu mỏ và than đá. Toluene được tìm thấy trong sơn móng tay, thuốc nhuộm…

Tác hại: Gây ảnh hưởng đến hệ hô hấp khiến buồn nôn, kích ứng da. Phụ nữ mang thai nên tránh tiếp xúc với nó vì ảnh hưởng đến sự phát triển thai nhi.

Dibutyl phtalat

Dibutyl Phtalat là hợp chất có dạng lỏng như dầu, thường được dùng như một dạng dung môi trong các sản phẩm làm móng và làm tóc.

Tác hại: Nếu tiếp xúc với loại hóa chất này ở mức độ cao trong thời gian dài sẽ gây ra những tác động xấu đến gan/thận, dị tật thai nhi.

Thủy ngân

Thủy ngân được một số công ty sản xuất mỹ phẩm trộn vào nhằm ngăn các sắc tố phát triển, làm da trắng sáng hơn. Tiếp xúc với khí thùy ngân trong thời gian dài, bao gồm rối loạn thần kinh, các vấn đề về trí nhớ, viêm da, viêm thận. Người bị nhiễm độc thủy ngân sẽ bị tác động nghiêm trọng tới hệ thần kinh, bị tổn thương não bộ, gây ra chứng mệt mỏi, trầm cảm, bị chóng mặt, đau đầu, lâu dần có thể gây hư thận.

 Crom

Một số nguyên tố kim loại nặng như cromium và neodymium có thể tăng thêm hiệu quả của mỹ phẩm làm cho nước da trắng và đẹp ra, hoặc tăng thêm tính đàn hồi của da một cách rõ rệt, vì vậy một số nhà sản xuất đã đưa những nguyên tố kim loại nặng đó vào kem dưỡng da, phấn hoặc các mỹ phẩm khác. Crom có thể gây nên viêm da dị ứng hoặc phát ban, neodimi có tác dụng kích thích rất mạnh đối với mắt, đồng thời cũng kích thích da ở mức trung bình.

 Neody

  Bụi neodimi và các muối của nó kích ứng mạnh đối với mắt và các màng nhầy và kích ứng vừa phải đối với da.

 Chì

Chì được thêm vào không phải nhằm mục đích hấp thụ hay sử dụng để làm cho son tốt hơn. Mức độ chì được tìm thấy trong mỹ phẩm bắt nguồn từ màu sắc sử dụng để tạo màu son môi. Theo báo cáo của FDA, lượng chì trung bình có trong son môi là 1.11 PPM. Chúng ta cần phải ăn hàng ngàn thỏi son trong suốt đời thì lượng chì hấp thụ mới tích tụ đủ để gây ra một rủi ro nhỏ xíu. Thực sự thì cả đời 1 phụ nữ cũng chỉ tiêu thụ chừng 2kg son.

Corticoit

Corticoid được xếp trong nhóm độc dược bảng B của Bộ Y tế. Nó chỉ được dùng theo chỉ định của bác sỹ và ngay cả bác sỹ cũng phải đặc biệt cẩn trọng (xem xét đã cần dùng chưa, liều lượng và thời gian dùng) khi dùng thuốc có chứa Corticoid. Khi được đưa ra khỏi phạm vi y tế, Corticoid là độc dược gây hại vì những tác dụng phụ, gây nghiện y như ma túy. Chất này bị cấm không được đưa ra dưới dạng mỹ phẩm.

Share:Facebook!